The unique key to your inner self's core source code is here

woman in black leather jacket looking at stars

Con người và thần thức

human consciousness system

A.A.A

Louyiz

1/1/202652 min read

Giải nghĩa danh từ "thần thức":

Thần thức bắt nguồn từ khái niệm bên phật giáo, nói rằng con người có khả năng nhận biết và nhận xét mọi thứ trong trải nghiệm cuộc sống là nhờ đến cái gọi là "thức", và cái thức này được chia ra làm nhiều phần:

- Ngũ thức tương ứng với ngũ căn, tức là ngũ quan con người. Ngũ thức này tương ứng với ý thức, nhận thức trong trải nghiệm cuộc sống của con người thông qua năm giác quan thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, vị giác.

- Mạt Na thức tương ứng với giác quan thứ sáu mà ta hay gọi là trực giác, có vai trò khơi gợi ký ức, cũng như dự đoán những khả năng có thể xảy ra dựa trên dữ liệu tiềm thức sẵn có.

- A Lại Da thức tương ứng với vô thức, và cũng là giác quan thứ bảy, có vai trò là kho chứa toàn bộ dữ liệu muôn kiếp của linh hồn từ khi nó mới đặt chân lần đầu xuống Trái Đất này.

Như vậy, thần thức là tên gọi chung của tổng hợp các thức kể trên. Chữ "thần" nguyên bản có nghĩa là sự hiện diện, ví dụ như người ta hay nói bần thần(sự hiện diện trông có vẻ tệ hại, khốn khổ), tâm thần (sự hiện diện của tâm lý), thần trí (sự hiện diện của lý trí), thần thánh (sự hiện diện thiêng liêng)...Còn chữ "thức" thì người ta hay hiểu theo nghĩa thông thường là ý thức nói chung, ví dụ như thức dậy, thức tỉnh (là ý thức tỉnh dậy sau giấc ngủ), đánh thức ( là tác động đối tượng làm họ thức dậy).

Tóm lại thì, ý thức mà con người hoạt động trong lúc tỉnh táo và hòa nhập vào cuộc sống thường ngày - nó chỉ là một phần trong thần thức có tính hiện diện của khả năng nhận biết, hay còn gọi là tánh biết trong ngôn ngữ phật giáo.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Toàn bộ hệ thống của cái "thức" trong con người bao gồm ba phần chính, trong ba phần chính này lại có ba phần nhỏ hơn, mỗi phần đều có các nhánh vận hành một số cơ chế tâm trí con người:

Ý thức (conscious mind) - [5%]: Còn có thể gọi là nhận thức, tức là khả năng tiếp nhận thông tin từ bên ngoài phản chiếu với ý thức mà từ bản thân phát ra. Đây là phần bề nổi rõ ràng nhất của cái thức, được minh họa như tảng băng trôi giữa đại dương, là cánh cổng ra vào của việc tiếp nhận và phát đi mọi thông tin. Tất cả mọi tín hiệu nhận biết qua các giác quan cuối cùng đều phải thông qua bề mặt của ý thức. Mặc dù chỉ chiếm 5%, nhưng nó quyết định tất cả mọi sự thay đổi nhân quả số mệnh khi tương tác với môi trường bên ngoài.

Tiềm thức (subconscious mind) - [25%]: Từ ý thức đi xuống một chút là phần tiền ý thức (preconscious mind), rồi mới đến tiềm thức. Đây là vùng đệm giao thoa giữa ý thức và vô thức, chi phối mọi hoạt động của động cơ tiềm ẩn, sự tự phát, sự thôi thúc, ký ức khơi gợi...khiến bản ngã con người phản chiều theo các thói quen, tập tính, sở thích, cũng như những cảm giác quen thuộc, hoặc những nỗi sợ không thể giải thích được. Tất cả những gì thuộc về tiềm thức là ký ức của hiện kiếp và tiền kiếp gần.

Vô thức (unconscious mind) - [70%]: Là phần sâu nhất chi phối bản năng, bản chất, tâm tính con người - ở cấp độ cốt lõi. Đây là phần mà bên phật giáo gọi là vô lượng kiếp. Nếu tiềm thức là phần dữ liệu của quá khứ trong kiếp này, và một vài kiếp trước, thì vô thức ở xa hơn thế nữa, bao gồm cả những kiếp cơ bản, sơ khai nhất như động vật, côn trùng, cỏ cây đất đá...

Tỉ lệ của ý thức, tiềm thức và vô thức khớp với biểu đồ tổng phân chia 100% nguồn lực trong vũ trụ. Điều này cũng tương ứng với luật thứ tư (trong hệ kiến thức của AAA - trích xuất từ dữ liệu akashic), rằng vũ trụ rộng lớn ngoài không gian phản ánh tiểu vũ trụ thuộc cái "thức"(consciousness) bên trong của mỗi con người.

Như vậy có nghĩa là con người chủ yếu trải nghiệm cuộc sống bằng 5% nhận thức hình tướng của ý thức thông qua ngũ quan, hay còn gọi là ngũ thức. 25% của tiềm thức là thứ chi phối phần ý thức con người, dưới nữa là 70% vô thức - đại dương sâu thẳm chứa toàn bộ dữ liệu muôn kiếp nhân sinh của linh hồn.

Bản chất của thức ở bậc ba chính là cái trí của con người, và trí cũng là lực thứ ba hiện diện từ khởi nguồn vũ trụ, nguồn lực này trong AAA gọi nó là tam nguyên.

Ba phần trong conscious mind (ý thức) [5%]

Logical processing: Dịch nghĩa là tiến trình xử lý thông tin dựa trên lý lẽ logic - hay ngắn gọn là quy trình suy luận logic, một trong 3 yếu tố chính của ý thức rõ ràng, nơi con người xử lý thông tin cuộc sống hàng ngày. Có thể hiểu như là trạm phân tích dữ liệu từ các giác quan gửi đến để đưa ra quyết định, nó tựa như là CPU máy tính vậy.

Để xử lý thông tin, thì đây là công cụ đầu tiên để liên kết với yếu tố thứ hai (sensory input). Mối liên hệ này tựa như kết nối cuộc gọi điện thoại, đầu này người gọi phát đi giọng nói truyền tải thông tin đến đầu kia để người nghe nhận thức được và phản hồi lại bằng một hành động thuộc yếu tố thứ 3 (voluntary control) như là trả lời cuộc gọi hoặc cúp máy.

Trong logical processing có 3 phân nhánh điều khiển là goals (mục tiêu), plans (kế hoạch), analysis (phân tích) - tạo nên một vòng tuần hoàn xử lý dữ liệu có tính liên kết và liên tục. Đây cũng có thể gọi là hệ thống tư duy logic của con người.

Goals là mục tiêu tiền đề, điểm đến tự đặt ra của cái tôi bản ngã để có định hướng vai trò trong cuộc sống. Mục tiêu có thể là từ những mong muốn to lớn như sự nghiệp (kiếm được 100 tỷ trước 50 tuổi để về hưu sớm chẳng hạn), cũng có thể là từ những nhu cầu nhỏ nhặt hàng ngày (như hôm nay đi chợ mua gì, ăn gì...). goals hoạt động như ngọn đuốc dẫn đường của ý thức, nó cho con người có cảm giác "tôi biết mình muốn gì". Không cần mục tiêu quá dài hạn hay vĩ đại, dù chỉ là những mục tiêu nhỏ nhặt, thì nó cũng cho bản ngã có lý do để tồn tại.

Plans là kế hoạch, sự xâu chuỗi liên kết logic để thực hiện việc hướng tới mục tiêu một cách có trình tự tuyến tính - dựa trên tài sản, vốn hiểu biết, trình độ kỹ năng, kinh nghiệm, mối quan hệ...mà ta sở hữu, nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất theo cách mà bản thân nhìn nhận. Plans là bản đồ chi tiết biểu hiện thực tại và tương lai một cách có trình tự, thời gian. Nó giống như một dạng lập trình tuyến tính bước 1 > bước 2 > bước 3 >...>cuối cùng là đạt được mục tiêu.

Analysis nghĩa là phân tích, là đầu mối chính trong bộ ba liên kết ý thức logical processing - nắm vai trò phân mảnh và phân tích dữ liệu sau khi nhận được gói thông tin đầu vào các giác quan bởi hệ thống sensory input, từ đó có thể hiểu và lập plans/goals bằng cách dựng khung logic. Khung này ý tựa như cách con người đặt nền móng, vẽ bản thiết kế xây nhà vậy. Việc cắt nhỏ dữ liệu từ sensory input là để nuôi dưỡng plans và goals - việc này sẽ nhận thấy rõ ràng hơn đối với những dự án mang tính lâu dài.

Analysis trả lời ba câu hỏi cốt lõi của bản ngã:

- Hiện tại tôi ở đâu, vị trí, hoàn cảnh gì? (vd : hiện giờ đang ở phòng ngủ, và tôi đang nóng nực)

- Có gì cản trở tôi không? (phòng có đầy đủ tiện nghi như quạt, máy lạnh, nước đá >> không có gì cản trở)

- Bước tiếp theo nên làm gì? ( remote để quên ở phòng khách, giờ phải đi lấy thôi, bật 22 độ chắc là đủ mát )

Analysis hoạt động liên tục không ngừng nghỉ như CPU máy tính khi đang power on, từ những việc lớn cho đến việc nhỏ, chỉ cần có suy nghĩ dẫn đến mục đích hành động, ví dụ đơn giản như việc đi rót nước uống, hay lấy remote bật máy lạnh...

Mối liên hệ vòng tròn của bộ ba trong logical processing: là vòng lặp tự động giúp cho bản ngã chạy chương trình tư duy cuộc sống ở thế giới 3D mà không bị quá tải thông tin.

Chi tiết quá trình vòng lặp:

Goals (khởi điểm vòng lặp): Bản ngã tự đặt "điểm đến" tạm thời từ dữ liệu sensory input, vd như là "mua xe mới". Goals là thanh tiến độ để bản thân cảm thấy có mục đích hướng tới.

Plans (kế hoạch, bước 2): Từ goals, bản ngã vẽ bản đồ chi tiết, như "mỗi ngày làm 2 việc, tiết kiệm 1 triệu/tháng, sau 6 tháng sẽ quyết định chọn mua xe gì". Plans là bản kế hoạch cần làm theo chuỗi như các đoạn mã code cần thực thi trong lập trình ngôn ngữ máy tính vậy.

Analysis (phân tích, bước 3): Bản ngã cắt nhỏ dữ liệu thực tế từ sensory input để kiểm tra plans, như "tiền tiết kiệm đủ chưa? có rủi ro không? có cần làm thêm việc để đẩy nhanh tiến độ không?". Analysis hoạt động như là một debugger (chương trình gỡ và sửa lỗi) của vòng lặp ý thức, cập nhật plans (nếu sai) và goals (nếu cần thay đổi).

Vòng lặp hoạt động như thế nào?

>Quy trình: Goal ⇝ plans ⇝ analysis ⇝ nếu OK thì lặp lại; nếu sai thì điều chỉnh lại plans ⇝ cập nhật goals ⇝ quay lại plans.

Ví dụ đơn giản: Goals "giàu có" ⇝ plans "làm việc 12h/ngày" ⇝ analysis "sức khỏe kém" ⇝ điều chỉnh plans "cần nghỉ ngơi thêm" ⇝ cập nhật goals "cân bằng cuộc sống" ⇝ lặp lại.

Đây là vòng lặp duy nhất mà ý thức được phép tự vận hành mà không cần "xin phép" các tầng sâu hơn thuộc tiềm thức và vô thức. Điều này làm cho bản ngã có được cảm giác "tôi làm chủ cuộc chơi", dù chỉ trong phạm vi 5% được phép.

Sensory input: Từ logical processing là nơi xử lý thông tin, thì sensory xem như là radar thu nhận thông tin đầu vào, thông qua các giác quan. Hình dung nó như là công cụ bắt sóng wifi, bluetooth của máy tính vậy, còn sóng mà sensory input ở con người bắt được - là sóng thông tin của từng giác quan theo chức năng, đối với các sự vật, sự việc, đối tượng vật chất, đối tượng sinh học...

Sensory input không phải là hệ thống thuộc cơ chế vật lý, mà nó là chức năng ở mức độ vi mô hơn nhiều, nó là lớp biên dịch thông tin - chuyển đổi sóng năng lượng vũ trụ thành tín hiệu cảm quan mà nhận thức con người hiểu được. Sóng năng lượng vũ trụ ở đây có thể hiểu là nguyên liệu tạo sinh cho tất cả mọi nguồn hữu hình lẫn vô hình - từ gió, lửa, cây cỏ, nhà cửa, côn trùng, động vật, đất đá, âm thanh, ánh sáng...cho đến cả lời nói, suy nghĩ, tưởng tượng, cảm giác của con người. Nhìn chung thì toàn bộ tất cả những gì thuộc mức độ lượng tử (quantum physics) đều được quy vào năng lượng vũ trụ.

Chức năng cốt lõi của sensory input là lọc&nén dữ liệu. Từ góc độ phạm vi của các giác quan con người đồng thời hoạt động, thì cùng lúc có tới hàng triệu tỷ bit (bit là chỉ số đơn vị cơ bản của thông tin kỹ thuật số) dữ liệu xung quanh, và khả năng tầm soát của ngũ quan chỉ cho phép khoảng 0.0001% lượng bit thông tin đi vào ý thức để bộ vi xử lý logic có thể hoạt động ổn định mà không bị quá tải dữ liệu. Phần dữ liệu còn lại sẽ được đưa xuống tiềm thức và vô thức ⇝ tạo ra thế giới ẩn mà con người thường không chủ động để ý thấy được.

Sensory input cũng được chia nhỏ thành ba phần là willpower (sức mạnh ý chí), behavior (hành vi), values (giá trị) - đóng vai trò là ba lớp cửa khóa/mở đối với việc tiếp nhận thông tin đầu vào, chỉ khi cả ba lớp này cùng mở thì dữ liệu mới thực sự vào được ý thức.

Willpower có nghĩa là sức mạnh ý chí, hay là ý chí chủ động của con người. Đây là bộ lọc đầu tiên quyết định việc "tôi có muốn nhận dữ liệu này không?". Ví dụ: bạn đi ngang tiệm bánh ⇝ sensory input gửi tín hiệu đến thị giác & khứu giác rằng "bánh ngon lắm" ⇝ willpower lập tức can thiệp: "không được, mình đang giảm cân" ⇝ tín hiệu bị chặn ngay từ cửa. Nếu willpower yếu thì dữ liệu tràn vào một cách không kiểm soát thì sẽ dẫn đến hành động bản năng tự phát mà không tự chủ được ⇝ bạn vẫn mua do không thể chống lại sức hấp dẫn của bánh.

Behavior là lớp lọc thứ hai kiểm tra dữ liệu mới có "khớp với lịch sử hành vi đã định hình" của bản ngã hay không. Vẫn là ví dụ tiệm bánh khi willpower yếu khiến bạn không thể tự chủ, bạn thèm ăn bánh kem dừa ⇝ behavior kiểm tra dữ liệu cũ: "hai lần gần đây mình ăn bánh này đều bị tiêu chảy, rất là mệt mỏi" ⇝ kết quả là nghỉ mua hoặc sẽ ráng mua ăn cho thỏa mà bất chấp hậu quả, tùy vào mức độ tiêu cực/tích cực của lịch sử trải nghiệm việc ăn bánh kem dừa. Behavior tựa như bộ nhớ cache - tự động ưu tiên những hành vi bạn đã từng làm, bất kể đó là đúng hay sai.

Values được hiểu là giá trị cốt lõi thông qua nhận định cá nhân, nó là bộ lọc cuối trong sensory input - đóng vai trò quyết định rằng dữ liệu có được phép vào conscious mind hay không, dựa trên "bộ quy tắc đạo đức" mà bản ngã tự nhận. Tiếp tục ví dụ tiệm bánh, quá trình mâu thuẫn giữa bản năng thèm ăn và tuân thủ giá trị "sức khỏe là trên hết" từ bộ lọc values. Nếu ý chí mạnh ⇝ giữ vững được quy tắc của values, thì bạn dứt khoát không ăn nữa. Như vậy ta có thể hiểu rằng values hoạt động như một bức tường chắn mang tên "nguyên tắc, đạo lý", được dùng để bảo vệ quan điểm bản ngã, Nếu bản ngã có ý chí thấp kém, hoặc nguyên tắc đạo lý có vấn đề lệch lạc, thì dễ tạo lỗ hổng nhận thức khi đưa ra quyết định hành động.

Thứ tự hoạt động của hệ thống lọc sensory input:

Sensory input (dữ liệu giác quan đầu vào) ⇝ willpower (ý chí có muốn hay không?) ⇝ behavior (từng trải qua chưa?) ⇝ values (có hợp với tiêu chuẩn giá trị mình đặt ra không?) ⇝ thông qua hết thì logical processing sẽ tiếp nhận. Nếu bất kỳ lớp lọc nào ở sensory input không chấp nhận, thì dữ liệu bị đẩy ngược xuống tiềm thức/vô thức, trở thành cảm giác khó chịu hoặc mơ hồ mà không rõ lý do, hoặc linh cảm gì đó mà bạn không giải thích đươc. Bộ lọc này không phải là cửa sổ mở, mà nó là ba lớp cửa khóa liên tiếp, chỉ khi ba lớp này mở cùng lúc thì dữ liệu mới được ý thức tiếp nhận.

Voluntary control: Có thể hiểu là quyền kiểm soát sự tự nguyện, chức năng mà làm cho con người có được cảm giác "tự do ý chí" lựa chọn mọi quyết định của mình, khiến cho ta cảm thấy mình làm chủ cuộc sống này, và thách thức những khuôn khổ khái niệm của số mệnh, định mệnh mà người đời lưu truyền từ ngàn xưa đến nay. Thực tế thì cái tự do ý chí này chỉ gói gọn trong khoảng 5% phạm vi hoạt động của ý thức.

Vai trò chính của voluntary control là "nút bấm quyết định" duy nhất cho hành động làm, không làm, hoặc làm khác đi - sau khi logical processing phân tích dựa trên dữ liệu được cung cấp từ sensory input. Hình dung nó tựa như thánh chỉ tuyệt đối phải tuân theo của nhà vua vậy, sau khi hội ý cùng bá quan văn võ trong triều để xâu chuỗi lại vấn đề, sau đó khảo bản thánh chỉ để bộ máy chính quyền thi hành mệnh lệnh.

Tương tự như logical processing và sensory input, voluntary control cũng chia ra thành 3 công tắc nhỏ, với vai trò riêng biệt:

Decisions (quyết định): Là nút bấm ý chí - bản ngã tự cho rằng mình "chọn" điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng trên thực tế thì 95% quyết định đã bị tiềm thức/vô thức "bấm sẵn" rồi, ý thức (5%) chỉ đóng vai trò ấn enter sau cùng. Như ví dụ trường hợp trên, bạn đã quyết định không ăn bánh nữa, nhưng 5 phút sau bạn đổi ý và vẫn ăn, vì nút decisions đã bị emotions (cảm xúc thèm ăn) bấm đè.

Actions (hành động): Nút bấm thực thi - chuyển decisions thành hành vi vật lý. Chịu trách nhiệm cuối cùng cho hành động thực tế, và là nút dễ bị hack nhất bởi các nguồn lực đổ dồn từ tiềm thức/vô thức ⇝ ví dụ rằng decisions muốn nói lời xin lỗi ⇝ đến khi actions hoạt động thì bị hack bởi instinctual hubris (một trong bộ 3 vô thức), kết quả là thay vì xin lỗi, thì trở thành nói dối, viện cớ hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh, đối tượng mà không trực tiếp xử lý được vấn đề như đã định.

Emotions (cảm xúc): bản ngã tưởng mình kiểm soát, làm chủ được nút bấm cảm giác này, nhưng thực tế nó chỉ là "cửa sổ phản hồi" từ vô thức. Bản chất của cảm xúc không phải tạo ra ở phần ý thức, mà chỉ được cho phép biểu đạt ở mức 5%, 95% cốt lõi được đè nén hoặc biến dạng ở khu vực tiềm thức/vô thức. Ví dụ: bạn quyết định không giận, hoặc tha thứ, bỏ qua cho người làm bạn tổn thương - là quyết định từ lý trí thông qua bộ lọc giá trị đạo đức chẳng hạn ⇝ tuy nhiên emotions vẫn rỉ ra dưới dạng bực bội, cáu gắt, khó chịu âm ỉ mỗi khi vấn đề được khơi gợi lại ⇝ vì vô thức đã bấm nút "giận" từ trước.

Thứ tự hoạt động thực tế của voluntary control:

Decisions ⇝ emotions (phản hồi ngay lập tức) ⇝ actions (thực thi đúng quy trình hoặc bị hack) ⇝ vòng lặp lại. Nếu emotion không biểu đạt được, không được nhận thức đầy đủ (ví dụ như sợ hãi, giận dữ, xấu hổ...) thì decisions sẽ mất đi tính tự chủ, dẫn đến actions phát ra một cách bốc đồng và thiếu kiểm soát.

Tóm lại, voluntary control thực chất chỉ là ba nút bấm giả tạm mà bản ngã tâm tưởng mình làm chủ - trên thực tế thì 95% thời gian đều bị 3 tầng tiềm thức/vô thức bấm đè sẵn trước rồi.

Ba phần trong subconscious mind (tiềm thức) [25%]

Mối liên hệ của 3 vùng tiềm thức:

*Echo memories (lưu dữ liệu gần) ⇝ habit loops (tự động hóa hành vi) ⇝ auto response (phản xạ nhanh khi cần).

*Echo memories nuôi habit loops (ký ức cũ tạo thói quen) ⇝ habit loops kích hoạt auto response (thói quen thành phản xạ).

Mỗi vùng tiềm thức đại diện đều có 5 phân nhánh nhỏ, giữ từng vai trò cụ thể trong hệ thống thần thức con người.

Echo memories: (ký ức âm vang) Là những ký ức gần đây, chưa bị đẩy sâu xuống tầng đáy tiềm thức & vô thức, nhưng cũng không còn ở bề mặt ý thức. Những ký ức này không rõ nét, mà vang vọng tựa như âm thanh phản hồi trong hang động hoặc giếng sâu vậy, tuy vậy chúng vẫn ảnh hưởng đến cách bản ngã xử lý thông tin mới khi đối chiếu.

Echo memories là cầu nối đầu tiên giao thoa giữa ý thức và các tầng dưới sâu dần của tiềm thức, nên còn có thể gọi đây là khu vực pre-conscious mind (tiền ý thức). Chức năng của nơi này hoạt động như một ngăn chứa bộ nhớ ngắn hạn - lưu lại cảm giác, hình ảnh, hoặc cảm xúc từ những trải nghiệm gần nhất, giúp ý thức bản ngã nhắc lại dữ liệu cũ mà không cần đào sâu xuống các tầng tiềm thức/vô thức.Vd: bạn vừa cãi nhau với người yêu ⇝ echo memories lưu lại "cảm giác bực bội" ⇝ lần sau gặp lại, bản ngã tự động nhớ và gợi sự căng thẳng, mặc dù có thể không nhớ rõ chi tiết lý do. Các phân nhánh của echo memoríes là: projections, self image/identity, imaginations, need clear orders&images, all memories - tất cả đều hoạt động dựa trên nguyên tắc của tính nhất nguyên.

Projections (phóng chiếu): Là phân vùng tự động "chiếu" cảm xúc hoặc kỳ vọng nội tại ra bên ngoài, khiến bản ngã nhìn thế giới qua lăng kính cá nhân mà không nhận ra. Chức năng này hoạt động như một máy chiếu vô thức - bản ngã thấy và nhận định người khác "xấu" hay "tốt", thì thực chất đều là sự phóng chiếu tiềm thức từ mình ra. Projections dễ làm cho bộ lọc đầu vào sensory input bị méo mó dữ liệu nhận thức, tạo ra ảo tưởng về "thực tại cá nhân hóa", từ đó khả năng đánh giá logic vấn đề bị lệch lạc. Vd: Bạn ghét ai đó "kiêu ngạo" vì cảm thấy họ hay thể hiện, dạy đời người khác ➡ thực ra là sự phóng chiếu từ instinctual hubris (bản năng kiêu ngạo vô thức) của chính mình ra họ.

Self image/identity (nhân dạng/bản sắc): Được gọi là "bộ sưu tập ảnh tự sướng vô thức" mà bản ngã tự xây dựng hình ảnh "tôi là ai, là người như thế nào" từ vùng ký ức âm vang mà không cần sự kiểm chứng. Có thể ví như là chiếc "gương soi"tiềm thức - bản ngã tự động bảo vệ hình ảnh này, dù đúng hay sai. Nó là nền tảng cho sự dính mắc instinctual hubris, khiến cho bản ngã "cứng đầu" và khó thay đổi bởi những hiểu biết của chính nó. Self image/identity giữ cho nhận thức bản ngã ổn định bằng cách tự dán nhãn bản thân. Vd như là "tôi giỏi giang, siêng năng" để che lấp đi sự bất an "tôi kém cỏi, tôi lười biếng". Hoặc "tôi khiêm tốn","tôi từ bi" để ẩn giấu sự ngạo mạn, sự kỳ thị ngầm bên trong nội tâm.

Imaginations (tưởng tượng): Phân vùng này có thể hiểu là "xưởng phim âm vang" vô thức - tự động tạo ra kịch bản, hình ảnh, hoặc câu chuyện mờ ảo dựa trên ký ức gần mà không cần lý trí cho phép. Imaginations lấp đầy khoảng trống dữ liệu bằng "phim tự chế" - đôi khi sáng tạo, đôi khi hoang tưởng. Nền tảng chi phối khu vực này đến từ ontological security (bản năng an toàn về ý nghĩa tồn tại). Vd: imaginations tự động tạo kịch bản trong trí tưởng tượng rằng người ta chơi xấu mình ➡ bản ngã dễ bị tin theo dù không có bất kỳ bằng chứng thực tế gì, mà đôi khi chỉ bằng cái mà bản thân tự cho là "trực giác mách bảo", hoặc dựa trên ký ức vòng lặp tiêu cực bởi những tổn thương đã chôn giấu xuống vùng sâu hơn của tiềm thức.

Need clear orders&images (nhu cầu tuyến tính rõ ràng&hình tướng): Là "bản năng phục tùng" mệnh lệnh - cần có dữ liệu rõ ràng và hình ảnh minh họa để echo memories không bị loạn thông tin. Khu vực này định hình nhu cầu logic của bản ngã, có thể hiểu như là cơ chế định dạng khuôn mẫu hình ảnh hoặc khái niệm một cách có thứ tự, trật tự theo chuỗi. Chu trình này tựa như hệ điều hành chờ nhập mã lệnh để triển khai, để cho bản ngã cảm thấy có sự chính xác và không bị lạc lối. Phân vùng này chủ yếu dễ bị chi phối bởi Ontological Security hoặc Instinctual Hubris.

Vd đối với OS: Khi cảm thấy bị rối loạn vì không biết mình cần gì, bản năng an toàn của OS khao khát tìm kiếm người cho lời khuyên, tìm người dẫn dắt (guru, idol) để có được tầm nhìn, có kim chỉ nam, có "lệnh" rõ ràng.

Vd đối với IH: Khi chấp mắc quá lớn vào self image/identity, bản ngã thường tự hợp lý hóa những gì nó tưởng tượng, tự hỏi và tự trả lời cho nhận định của bản thân, rốt cuộc tự trở thành guru (bậc thầy) của chính mình, tự chơi trò chơi "sáng thế" trong ảo tưởng tâm trí mà nó tự huyễn mà không cần tương tác, trải nghiệm nhiều nguồn thực tế bên ngoài để đối chứng nhị nguyên. Như vậy có nghĩa là bản ngã dạng này đã dính mắc vào cái bẫy nhất nguyên trong quá trình khám phá tâm linh. (chi tiết bài viết về chủ đề nhất nguyên sẽ được cập nhật sau này trên website)

All memories (toàn bộ ký ức): Là kho lưu trữ, ngân hàng dữ liệu tiềm thức - tất cả ký ức gần (không chỉ kiếp này, mà còn ở một số kiếp gần nhất) được giữ ở dạng "vang vọng", không rõ nét, nhưng luôn sẵn sàng kích hoạt. Ngân hàng này cung cấp dữ liệu cho 4 phân vùng trên thuộc echo memories. Nguồn gốc của toàn bộ ký ức đến từ ontological security (tôi tồn tại), chẳng hạn như bạn gặp một người lạ, hoặc đến một nơi lạ, học một môn mới lạ...mặc dù là lần đầu tiên tiếp xúc, nhưng nó lại cho bạn cảm giác tuy lạ mà quen, không khó để nắm bắt, để làm quen. Tất cả những sự lạ mà quen này diễn ra một cách vô thức mà không giải thích được lý do rõ ràng.

Mối liên hệ 5 phân vùng của echo memories:

All memories (dữ liệu nguồn) ⇝ need clear orders&images (tìm&nhận lệnh) ⇝ imaginations (tạo hình ảnh, kịch bản) ⇝ projections + self images/identity (phóng chiếu dựa trên vai trò của bản sắc cá nhân) ⇝ quay lại nguồn, lặp lại để tiếp diễn dữ liệu (nếu có).

--------------------------------

Habit loops: (vòng lặp thói quen) Hành vi hình thành từ sự lặp đi lặp lại của chuỗi quán tính theo nguyên tắc có làm ⇝ có thưởng. Đây là cơ chế mà ta thường thấy trong cách mà con người huấn luyện động vật. Chức năng của habit loops như là chương trình tự chạy của tiềm thức để tiết kiệm năng lượng tư duy, bằng cách tự động hóa hành động quen thuộc. Vd: buổi sáng thức dậy nghe chuông báo thức (tín hiệu vòng lặp) ⇝ lướt điện thoại (thói quen) ⇝ cảm thấy thư giãn, giải trí (phần thưởng). Điều này có thể lặp lại hàng ngày mà không cần phải đắn đo phân tích bởi "logical processing".

Vì tiềm thức chiếm đến 25% tổng so với 5% ý thức, nên việc muốn thay đổi một thói quen nào đó bằng ý thức là không dễ dàng, không phải là chuyện trong một sớm một chiều - nếu như thói quen đó đã ăn sâu vào lập trình hệ thống tư duy. Habit loops có thể dễ dàng "cướp quyền bấm nút" của voluntary control, nên mặc dù ý thức có mong muốn thay đổi, thì bản ngã cũng khó mà tuân theo.

5 phân nhánh của habit loops bao gồm habits, resist change, want to serve, trauma, secrets - tất cả đều hoạt động dựa trên nguyên tắc của tính nhị nguyên.

Habits (thói quen - phân nhánh cốt lõi): Nếu phần echo có all memories là kho lưu trữ thông tin ký ức chung, thì habit loops là kho lưu trữ những "chương trình tự động chạy", nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng tư duy đối với những công việc lặp đi lặp lại hàng ngày. Habits hoạt động như là phần thưởng quen thuộc mà tiềm thức ưu tiên để bản ngã cảm thấy an toàn. Cơ chế là: Habits "cướp quyền" voluntary control bằng cách tự động bấm nút actions, bỏ qua decisions. Vd: Thói quen hút thuốc – dù ý thức biết là có hại, habits vẫn tiện tay châm điếu thuốc vì "quen rồi".

Resist change (kháng cự thay đổi - phân nhánh bảo vệ): Là lá chắn của habit loops, hoạt động như "bộ khóa an toàn" – tự động kháng cự mọi thay đổi để giữ vòng lặp ổn định. Khi ý thức cố thay đổi goals/plans, resist change kích hoạt cơ chế "đông cứng" (bảo thủ nhận định) hoặc "phản công" (cãi lại lý trí).

Resist change không phải "chống đối" có ý thức mà là phản xạ vô thức – nó "khóa tư duy" khi thói quen bị thách thức, vì thay đổi = rủi ro bất an.

Nó kích hoạt theo 3 cách:

Khóa vòng lặp: Khi bản ngã cố thay đổi habits, resist change rò rỉ cảm giác "khó chịu" từ echo memories để kéo lại thói quen cũ.

Biện minh lệch lạc: Kết nối với secrets để giấu lý do kháng cự, khiến bản ngã nghĩ "mình chưa sẵn sàng" thay vì "mình sợ thay đổi".

Lặp lại âm thầm: Kết nối với want to serve để diễn dịch sự kháng cự thành "mình làm vậy vì tốt cho người khác", che giấu tổn thương từ trauma. Tạo "cơ chế an ninh" để habit loops chạy ổn định – che giấu bất an, bảo vệ bản ngã bằng cách "giữ nguyên hiện trạng quen thuộc".

Vd: Bạn muốn bỏ thói quen lướt TikTok trước khi ngủ → resist change kích hoạt từ echo memories, rò rỉ cảm giác "thư giãn quen thuộc" bạn tự nghĩ "mai bỏ", nhưng echo memories lặp ký ức "thư giãn" resist change khóa ý chí, và bạn lại lướt tiếp.

Want to serve (mong muốn phục vụ - phân nhánh tạo động lực): Là phân vùng chứa những động lực tiềm ẩn, hoạt động như "bộ máy tự nguyện" – tự động thúc đẩy thói quen bằng cách "muốn phục vụ" một thứ lớn hơn (gia đình, xã hội, hoặc unconscious), nó có thể che giấu bất an bằng cách biến thói quen thành "nghĩa vụ thiêng liêng" mà bản ngã không hay biết.

Cơ chế: want to serve nhận tín hiệu từ unconscious, khiến thói quen trở thành "nghĩa vụ" – khó bỏ vì cảm thấy "phục vụ là đúng". Vd: Thói quen làm việc kiệt sức – want to serve kích hoạt tư duy "phục vụ vì gia đình" dù ý thức muốn nghỉ, vòng lặp vẫn ép làm thêm giờ.

Want to serve không phải "phục vụ có ý thức" mà là bản năng vô thức – nhận dữ liệu từ echo memories để nuôi vòng lặp thói quen, khiến bản ngã nghĩ "tôi làm vậy vì tốt cho ai đó", nhưng thực chất để che giấu bất an (như "nếu không phục vụ, tôi không còn giá trị"). Nó kích hoạt theo 3 cách:

Thúc đẩy thói quen "tích cực": Khi echo memories khởi lên ký ức gần là tốt đẹp, want to serve "bấm nút" thói quen để "phục vụ người khác".
Biện minh cho thói quen xấu: Khi trauma kích hoạt, want to serve diễn dịch thành "tôi làm vậy vì yêu thương", che giấu tổn thương gì đó liên quan trong quá khứ.

Lặp lại âm thầm: Kết nối với resist change để "khóa" thay đổi, vì lý do "phục vụ, cho đi là sứ mệnh bất biến, là chân lý của tôi".

Trauma (tổn thương - phân nhánh phòng vệ): Hoạt động như "bộ nhớ nhiễm độc cần xử lý" – lưu trữ những trải nghiệm tổn thương trong quá khứ mà không giải quyết, hoặc chưa được giải quyết triệt để, khiến thói quen trở thành "lá chắn" để che giấu bất an, nhưng thực chất làm nên vòng lặp toxic lặp lại.

Có thể hình dung trauma như là khu vực liệt kê các loại virus gây hại trong một phần mềm antivirus chạy trên máy tính. Mỗi chấn thương tâm lý là một dạng virus đã lưu dấu ấn tiêu cực cho tâm thức và chìm xuống phần tiềm thức trauma này, rồi chờ một dịp nào đó sẽ trồi lên để mà tiếp tục xử lý.

Quy trình: Trauma kích hoạt khi sensory Input gửi dữ liệu "gợi nhớ" echo memories "vang vọng" ký ức habit loops tự động "chạy" thói quen che giấu (như "nhậu để quên sầu", "mua sắm, tự thưởng để cảm thấy bản thân được yêu thương"). Ý thức bản ngã chỉ hợp lý hóa sau đó, kiểu " chỉ là tôi thích vậy thôi".

Làm "bộ rễ độc" để che nỗi bất an – giúp bản ngã an toàn bằng cách tránh chạm vào tổn thương, nhưng nếu nhìn nhận lệch lạc, nó tạo thói quen "tự hại" (như nghiện rượu để quên đời, yêu đương mù quáng để né cảm giác cô đơn, thiếu thốn...). Trauma là nguồn gốc của 90% thói quen xấu, vì nó khiến habit loops "chạy sai lệnh" để bảo vệ bản ngã. Akashic nhìn nhận trauma là "rác tiềm thức gần" – nếu không giải, nó rò rỉ lên ý thức thành sự bất an không rõ lý do.

Secrets (bí mật - phân nhánh "hộp đen"): Lưu trữ những thông tin, cảm xúc, hoặc ký ức mà bản ngã không muốn đưa lên bề mặt ý thức, vì sợ bị "lộ" sẽ gây bất an hoặc tổn hại hình ảnh cái tôi. Không phải bí mật rõ ràng như ý thức nhận biết, mà là những "bí mật vô thức" – thậm chí bản ngã còn tự giấu chính nó mà không biết, giống như chiếc "hộp đen" chứa những thứ không nên biết là có tồn tại, mặc dù nó vẫn âm thầm hoạt động.

Lưu trữ & che giấu: Secrets "rò rỉ" rất ít, chỉ khi kích hoạt mạnh từ sensory input (như gặp tình huống có tính chất cộng hưởng/kích hoạt cảm xúc), khiến bản ngã "cảm thấy khó chịu không rõ lý do". Nó che giấu bất an bằng cách "đóng nắp hộp" – không cho ý thức chạm vào, nhưng vẫn ảnh hưởng gián tiếp qua các vùng khác (như projections "phóng" bí mật ra ngoài dưới dạng nghi ngờ người khác).

Cơ chế che giấu bất an: Secrets làm "bộ an ninh" để bản ngã "sống yên bình" – giấu những thứ "xấu hổ" hoặc "nguy hiểm" (vd như bí mật thất bại, dục vọng, hoặc ký ức xấu), che bất an bằng cách "không tồn tại thì không sao". Nếu rò rỉ, tạo cảm giác "có gì đó không ổn" nhưng không biết tại sao.

Vd: Bạn có bí mật "từng gian lận thi cử" – secrets lưu trữ, không cho lên conscious. Sau này khi đi thi, gặp giám thị đi ngang, sensory input kích hoạt secrets rò rỉ cảm giác "bất an lạ" bạn tự động căng thẳng (như là có tật giật mình) nhưng không biết lý do, chỉ nghĩ "thi cử khó quá". Secrets che giấu bất an bằng cách "không nhớ thì không xấu hổ".

Secrets làm "bộ khóa an toàn" cho habit loops – giữ bí mật gần để không chìm xuống unconscious (trở thành rác tiềm thức) hoặc lên conscious (làm tổn hại bản ngã). Ở góc nhìn lệch lạc, nó tạo vòng lặp toxic (như giấu bí mật tình cảm phóng chiếu nghi ngờ người yêu lặp ghen tuông vô cớ).

------------------------------

Auto-response: (phản xạ tự động) Là cơ chế phản ứng bản năng gần như tức thì, không qua logical processing hay decisions, nó tựa như phản xạ sinh tồn vậy. Đây là "hệ thống phòng thủ nhanh" của tiềm thức bản ngã ⇝ phản ứng với tình huống nguy cấp hoặc quen thuộc một cách tự nhiên mà không cần dựa vào suy nghĩ. Vd: bị giật mình, hay rợn da gà, rợn tóc gáy, xúc động...là do auto response khiến cơ thể co người lại, gây cảm giác ớn lạnh, hoặc cảm giác đồng cảm từ việc xúc động ⇝ sau đó ý thức mới dần hình dung chuyện gì vừa xảy ra.

Auto response là lớp bảo vệ nằm sâu dưới cùng trước khi chạm đến điểm giao của tầng vô thức, nên đây cũng là lý do cơ chế hoạt động của nó gần tựa như vô thức vậy. Mọi hoạt động của vô thức cũng sẽ phải băng qua lớp auto response này. Phần này cũng có 5 phân nhánh, tuy nhiên nguyên tắc hoạt động không dựa hẳn trên nhất nguyên hay nhị nguyên - mà là một khái niệm giao thoa giữa nhất và nhị ➣ người đời thường gọi là "đạo", tam nguyên cũng từ đó mà được sinh ra.

Personal beliefs (niềm tin cá nhân): Là bộ "niềm tin cốt lõi" trong auto response - lưu trữ niềm tin cá nhân mà không cần ý thức kiểm tra, khiến phản xạ trở thành "tự động tin mình đúng", nhưng thực chất là ảo tưởng vô thức từ ký ức gần.

Niềm tin từ personal beliefs không phải đến từ lý trí, mà là niềm tin vô thức - bản ngã tự "tin rằng là vậy" mà không cần bất kỳ chứng minh gì, chỉ cần cảm thấy nó đúng thì điều đó mặc định phải đúng. Khi có ý kiến đối nghịch thì dễ khiến bản ngã nổi cơn khó chịu vì nghĩ mình bị công kích, bị chỉ trích không đúng với cách nó cảm thấy (do primal aggression chi phối).

Cơ chế hoạt động: Khi sensory input gửi dữ liệu tình huống đến ý thức, auto response kích hoạt self beliefs để "tước quyền bấm nút" của voluntary control ngay lập tức - dựa trên niềm tin cá nhân trong tiềm thức, che giấu bất an bằng cách tin mình đúng hơn người ta. Dĩ nhiên là, khi niềm tin đó dựa trên sự lệch lạc do rác tiềm thức, nó trở thành phản xạ của việc "tự tin giả".

Cơ chế vòng lặp "khẳng định ngầm" để giữ auto response chạy trơn tru - khi kết hợp với echo memories: self belief need clear orders & images (tìm ví dụ để chứng minh niềm tin) imaginations (tạo kịch bản "tôi đúng") projections + self image (phóng chiếu niềm tin ra ngoài) quay lại self belief (lưu niềm tin mới hoặc củng cố niềm tin cũ) lặp lại. Vd: Bạn gặp thất bại trong công việc và bị sếp mắng ⇝ self belief kích hoạt niềm tin gần rằng "tôi thông minh, tôi giỏi" → auto response bấm nút "cãi lại sếp vì sếp vô lý" – che giấu bất an "tôi thất bại" bằng cách "tin mình đúng, sếp mới là người sai". Sau đó, kết quả là bạn mất việc, nhưng vẫn tiếp tục tin là sếp sai.

Cultural beliefs (niềm tin văn hóa/xã hội): Phân vùng "bộ lọc di sản văn hóa ngầm" trong auto response, hoạt động như "mã nguồn văn hóa" được cài đặt từ nhỏ, theo môi trường sống – tự động kích hoạt phản xạ dựa trên niềm tin tập thể mà bản ngã tự động tuân theo, che giấu bất an bằng cách "tôi đúng vì văn hóa/xã hội dạy vậy".

Nguồn gốc: cultural beliefs kết hợp dữ liệu từ echo memories (ký ức từ gia đình, xã hội, giáo dục) và all memories (ký ức hiện kiếp gần và những kiếp gần đây), lưu trữ niềm tin tập thể như "con trai phải mạnh mẽ", "phụ nữ phải dịu dàng", "làm việc chăm chỉ mới thành công". Nó không phải vấn đề niềm tin cá nhân (self belief) mà là "niềm tin mặc định" từ văn hóa, chạy tự động khi sensory input gửi dữ liệu xã hội và ý thức nhận dạng để cộng hưởng. Quy trình cụ thể là khi gặp tình huống sự kiện, auto response kích hoạt cultural beliefs để "bấm nút" ngay – phản xạ theo niềm tin văn hóa mà không qua logical processing. Nếu lệch, nó biến phản xạ thành "phán xét bất chấp" hoặc "tuân thủ mù quáng", Vd như việc người ta tự động phán xét tiêu cực cho một bài viết mà họ nghĩ bài viết đó mang tính chống phá, phản bội hệ thống xã hội mà họ đang theo.

Cơ chế vòng lặp "tuân thủ ngầm" khi cultural beliefs+ personal beliefs (cá nhân hóa niềm tin văn hóa/xã hội/tập thể nhóm): fears (kích hoạt sợ lệch chuẩn) does not judge (không dám phán xét hệ thống luật văn hóa/xã hội) → quay lại cultural beliefs (lưu niềm tin mới từ phản xạ môi trường) lặp lại. Điều này che bất an bằng cách "tuân theo tính tập thể là an toàn", nhưng nếu lệch, tạo thành phản xạ "phán xét xã hội" (như kỳ thị giới tính, giai cấp). Bạn thấy người khác sống khác chuẩn văn hóa (vd: con gái hút thuốc) – cultural beliefs nhận dạng niềm tin rằng "phụ nữ hút thuốc là hư" → auto response bấm nút "phán xét" ngay (cáu gắt hoặc tránh né) che giấu bất an "tôi sợ lệch chuẩn", bản ngã biện minh rằng "văn hóa dạy vậy mà".

Fears (nỗi sợ): Là nguồn gốc phản xạ sinh tồn trong auto response, hoạt động như "bộ báo động ngầm" – tự động kích hoạt nỗi sợ từ ký ức gần của tiềm thức hoặc gốc vô thức. Đây không phải nỗi sợ từ lý trí, mà là gốc rễ của bản năng – phản ứng sinh tồn tự động, giống như "cảm giác sợ độ cao", mặc dù lý trí có cố trấn an như thế nào đi nữa, cảm giác sợ "bị té chết" là không tránh khỏi khi đối diện thực tế. Nền tảng của fears đến từ phần vô thức ontological security.

Khi sensory input gửi dữ liệu có hơi hướng "đe dọa" (dù thật hay ảo), fears kích hoạt ngay auto response "bấm nút" fight or flight (đánh hoặc né) lý trí chỉ hợp lý hóa sau đó bằng những lý do mà bản ngã tự thuyết phục mình tin là.

Shame&guilt (hổ thẹn&tội lỗi): Hoạt động như lá chắn phản chiếu đạo đức trong auto response, là "bộ phán xét ngầm", không phải phán xét từ lý trí, mà là phản xạ đạo đức vô thức – tự động kích hoạt cảm giác xấu hổ/tự ti/tội lỗi từ ký ức gần hoặc di sản vô thức, khiến phản xạ trở thành "tự trừng phạt" hoặc "tự biện minh". Bản ngã không tự biết lý do gốc rễ thật, mà thay vào đó là lý trí thường tự hợp lý hóa theo góc nhìn chủ quan mang tính(ngầm) ưu tiên có lợi cho bản thân, dù là lợi về mặt hình tướng hay cảm xúc.

Khi sensory input gửi dữ liệu cho ý thức nhận thấy là có yếu tố vi phạm "chuẩn đạo đức" mà tiềm thức đã cài đặt sẵn trong self&cultural beliefs, shame & guilt kích hoạt) auto response "bấm nút" tự quán xét (rút lui, im lặng, hoặc tự trách) hoặc biện minh (cãi lại), hoặc phán xét (để khẳng định niềm tin) . Lý trí chỉ hợp lý hóa sau ("tôi làm vậy vì...").

Does not judge (không phán xét): Hoạt động như cơ chế cân bằng tính trung lập – tự động "phản xạ vô thức" - tắt chế độ đánh giá, ngăn bản ngã phán xét bản thân hoặc người khác, che giấu bất an bằng cách "không dính mắc" vào đúng sai, nhưng thực chất để tránh đối mặt cảm xúc thật tiềm ẩn bên trong, trốn tránh bản chất tồn tại của tính nhị nguyên trong tâm thức. Đây cũng xem như là một hình thức bản ngã tự bảo toàn năng lượng cá nhân, tạm dừng mọi hoạt động đào sâu, phân tích, nhận định vấn đề, cũng như là để bảo vệ mình tránh khỏi rủi ro bị công kích bởi đối phương, sau đó phải tốn thêm nhiều năng lượng tinh thần để đối phó với sự kiện.

Khi dính mắc vào vòng lặp của does not judge personal beliefs (trung lập hóa niềm tin) cultural beliefs (tránh phán xét chuẩn xã hội) fears/shame & guilt (che giấu nỗi sợ bằng việc "không dính mắc vào") quay lại does not judge (lưu "trung lập" mới) lặp lại, tạo nên vòng lặp "vô cảm" hoặc "tránh né" đối diện thực tế, nhưng lại nghĩ rằng mình khách quan, nhân đạo, nặng hơn nữa là ảo tưởng giác ngộ, tách rời hiện thực...

Tạo cơ chế "miễn trừ nhanh" để giữ auto response chạy êm – che đậy bất an bằng cách "không phán xét để an toàn". Nhưng khi ý thức tư duy lệch, dễ thành phản xạ vô cảm (như "kệ mẹ nó") hoặc tránh trách nhiệm (như "không phải việc của tôi"). Akashic coi đây là "cơ chế trung lập tạm".

VD: Khi thấy bạn bè làm sai – does not judge ghi nhận dữ liệu rằng "phán xét đau đầu" auto response bấm nút "im lặng, kệ đi" Lý trí hợp lý hóa rằng "tôi không muốn xen vào". Thực chất does not judge che giấu bất an "tôi sợ bị phán xét ngược" hoặc "tôi sợ mất bạn".

Như vậy does not judge là "bộ miễn trừ phán xét" trong auto response – tự động tắt đánh giá đúng sai từ ký ức gần để che bất an, khiến phản xạ thành trung lập hoặc tránh né, nhưng nếu lệch và lâu dần thì tạo nên tính vô cảm và làm lờn đi khả năng trực giác.

Ba phần trong unconscious mind (vô thức) [70%]

Biểu tượng hình học tam giác là sự đại diện nguyên thủy của khái niệm tư duy logic, và từ điều này cũng có thể hiểu rằng nó là khởi nguồn của mọi khái niệm sau đó được sinh ra từ thần thức. Khi ta vẽ một đường thẳng ở nơi bắt đầu và kết thúc bởi một điểm dấu chấm, thì tối thiểu cần có 3 dấu chấm để tạo ra được một thứ gọi là "vòng lặp" của đoạn thẳng. Khi 3 đường kết nối lại được với nhau, thì khái niệm đầu tiên trong vũ trụ được sinh ra, đó là "symbol" - có nghĩa là biểu tượng. Từ cái gọi là biểu tượng này, con người mới có thể triển khai, mở rộng nó ra thành hình ảnh có ý nghĩa, sau đó là chữ viết và cách hiểu...và trí tuệ của sự hiểu biết cũng được phát triển từ đó, dần dần hình thành nên một cái gọi là nền văn minh nhân loại.

Trong chiêm tinh học, nguyên tố đại diện thứ ba là "khí" - có ý nghĩa là suy nghĩ, là lý trí, sự hiểu biết, trí thông minh, trí tuệ...Vd như khi ta đọc truyện tranh truyền thống ngày xưa, khi nhân vật suy nghĩ trong đầu, hội thoại đó thường được đóng khung trong một đám mây bong bóng màu trắng, nó là một hình mẫu biểu trưng cho tính chất của khí.

Khí cũng là đại diện chủ yếu cho tính bản năng của nhị nguyên, tương tự như cách mà bộ não vật lý của con người hoạt động, dựa trên 3 phần (triune brain) là não trái, não phải và tiểu não.

Quay lại chủ đề, ta thấy rằng vô thức chiếm 70% trong tổng 100% của thần thức, tức là khuyết đi 30%. Đối với ý thức và tiềm thức, thì ý thức là phần hoạt động chính của con người khi sinh hoạt cuộc sống đời thường. Tiềm thức là phần chìm, nhưng vẫn còn có khả năng liên hệ mạnh với ý thức, chi phối ý thức ở một mức độ nhất định, và ý thức cũng có nhận thức phần nào sự ảnh hưởng của tiềm thức này, và có nhu cầu muốn thay đổi, chuyển hóa...cho chất lượng cuộc sống của phần ý thức được tốt hơn.

Tuy nhiên, 70% vô thức lại hoàn toàn ẩn trong khả năng nhận biết của ý thức. Nó thiết lập nên một nhận thức cho ý thức rằng 70% vô thức này hoạt động như là "cá tính bẩm sinh" của họ vậy, và ko thể nào thay đổi được phần cốt cách ấy, và dù tâm tính có sự thay đổi theo năm tháng, theo mức độ trưởng thành của tuổi tác, thì con người cũng không biết tại sao lại như vậy, mà chỉ có thể cố gắng hợp lý hóa theo những diễn giải của các bộ môn khoa học, và vốn dĩ các bộ môn khoa học ấy cũng bắt nguồn từ sự nghiệm chứng và hợp lý hóa trong khả năng hiểu biết hữu hạn của con người. Tất cả những điều này cũng không thể chứng minh được bản chất của vô thức - khi mà cái gọi là khoa học ấy, chỉ lần mò theo logic của mã di truyền học, họ không thể đào sâu hơn được bản chất vùng tối của vô thức, cũng như cách mà khoa học hiểu về vùng tối của 70% năng lượng tối tồn tại trong vũ trụ.

Vậy nên, ba phần trong vô thức mang ý nghĩa liên kết tam giác, hoạt động như cách mà ba phần não vật lý (triune brain) của con người diễn sinh ở mức độ mạng lưới tinh vi, mà để đến khi phát đi tín hiệu cho ý thức nhận biết được, thì nó đã đi ra đến đầu cửa ngõ 5% - sau khi đã trải qua tiến trình xử lý dữ liệu 95% ở vô thức & tiềm thức.

Primal aggression (hung hãn nguyên thủy): Bất cứ khi nào bên trong ta có cảm giác "phát hỏa", bất mãn, muốn công kích người khác, dù là bằng lời nói hay hành động, thì nó đều đến từ bản chất của nguyên tố lửa, là cấu trúc đầu tiên định hình nên cái tôi bản ngã.

Lửa là nguyên tố chính của sức sống, của động lực sinh tồn, và cũng là cội nguồn của cái "ý tôi là trên hết". Nó là cội nguồn của ý chí - căn nguyên sinh ra phần ý chí tự do (voluntary control) của ý thức.

Lửa có thể tạo ra sự sống, cũng có thể hủy diệt sự sống. Vô thức của lửa thông thường khởi nguồn từ sự hủy diệt, vì tiến trình của bản năng vô thức ở con người được xây dựng nên từ những kiếp sống căn bản nhất của thiên nhiên hoang dã (động vật, thực vật, vi sinh...) trong thế giới 3D, ở thực tại Trái Đất này.

Bản tính con người dựa trên primal aggression thì sẽ ưu tiên nhu cầu thỏa mãn bản thân - trong khi đó, trái nghĩa với primal aggression là primal protection (tính bảo vệ) ➙ là điều chỉ có được sau khi kết nối với tính chất của ontological vitality, khi đó sẽ chuyển sang bỏ qua nhu cầu bản thân mà bảo vệ thứ mà ta cảm thấy quan trọng hơn.

Ontological security (an toàn tồn tại học): Khái niệm "tôi tồn tại" và "của tôi" bắt nguồn từ đây. Sau lửa thì nguyên tố đất được định hình, đặt nền móng cho khái niệm "sở hữu". Đất mang ý nghĩa vật chất, hình dạng rõ ràng, cũng như cảm giác rõ ràng mà các giác quan con người có thể cảm nhận được và khao khát thỏa mãn trải nghiệm cho các giác quan đó. Như vậy, khái niệm sở hữu và cả giác quan để trải nghiiệm những cái ta sở hữu cũng đều từ nguyên tố đất này.

Thứ đầu tiên mà ta sở hữu khi chào đời là cơ thể vật lý con người, rồi tới các tài sản vật chất. Sau này khi lớn lên thì khái niệm sở hữu mở rộng ra hơn, ở mức độ vô hình hơn, như là mối quan hệ, ý tưởng, chất xám - những điều này dần có tính liên kết sang instinctual hubris.

Ontological security là trung tâm khởi nguồn, nếu xem nó là cái đầu, thì primal agression & instinctual hubris tựa như là tay trái và tay phải vậy. Mọi hoạt động của vô thức hầu như đều bắt nguồn từ đây trước tiên.

Instinctual hubris (ngạo mạn bản năng): Nếu hung hãn nguyên thủy là yếu tố hình thành cái tôi bản ngã thì instinctual hubris là cách mà cái tôi sẽ phải cộng sinh với các cái tôi khác - tức là mối quan hệ giữa con người với nhau. Nguyên tố khí đại diện cho gốc vô thức này, và đối với việc ta đã biết khí đại diện cho sự hiểu biết, trí thông minh, trí tuệ...thì đồng nghĩa ở đây sẽ xuất hiện yếu tố so sánh, khi mà xảy ra tương tác giữa các cái tôi. Cũng như trong ngôn ngữ chiêm tinh, đại diện cho cung hoàng đạo thứ 3 là Song Tử, là cung thừa hưởng toàn bộ tính chất cơ bản của nguyên tố khí.

Tương tự, luân xa 3-Manipura trong hệ thống chakra của Ấn Độ gọi là solar plexus- tức là đám rối thái dương, ý chỉ hệ thần kinh của cái tôi, vì bản chất mặt trời là nguồn năng lượng khai sinh ra hệ thống "cái tôi cá tính" con người. Đây cũng là lý do mà ngày tháng sinh đại diện cho hình mẫu tính cách cơ bản của con người theo cung hoàng đạo, bởi cách tính toán tháng sinh đều dựa trên chủ tinh là Mặt Trời. Từ những yếu tố vừa kể, nên luân xa 3, cũng như cung Song Tử - là tập hợp tính chất của cái tôi bản ngã. Ở thế giới 3D này, bài học chủ yếu và đầu tiên của việc làm người cũng là học làm chủ cái tôi, để có thể hài hòa chung sống hòa bình và tiến bộ cùng các cái tôi khác - nếu được như vậy thì instinctual hubris khi đó sẽ trở thành Insctinctual harmony (sự hài hòa bản năng) - một tính chất cao nhất mà có thể gọi với khái niệm "bình yên và hạnh phúc" đối với khát vọng của hầu hết nhân loại.

----------------------------------------------------------------

(bài viết vẫn còn đang trong tình trạng chỉnh sửa - update)

Version 1.0